trang

CÁC DÒNG SẢN PHẨM

Thứ Sáu, 27 tháng 6, 2014

18:14  Unknown

Lan test thu 2

+ Tặng quà - cho và nhận như thế nào?

Khi tặng quà bạn đừng nên chú trọng quá nhiều đến giá trị vật chất, đôi lúc món quà chỉ là 1 cành hoa, 1 cái lắc tay hay 1 cái hộp nhạc kèm theo là những cử chỉ chân thành, ngô nghê của bạn cũng khiến cho người nhận cảm thấy món quà vô cùng đặc biệt và ý nghĩa.

Còn khi bạn nhận được quà từ người khác, cho dù món quà đó có vừa ý với bạn hay không, bạn cũng nên cảm ơn và có hành động cữ chỉ trân trọng món quà đó, nếu không muốn nhận quà thì bạn nên khéo léo từ chối, không nên từ chối 1 cach thẳng thừng để ảnh hưởng đến mối quan hệ.



+ Tặng quà cho "người ấy" như thế nào?

Tặng quà luôn là một vấn đề nan giải cho cả nam và nữ, đặc biệt là tặng quà cho người ấy, vì khi đó món quà có thể là nhân tố giúp cho mối quan hệ của bạn trở nên tốt đẹp hơn, gần gủi hơn. Bí quyết thành công trong việc tằng quà cho đối phương là "hãy tặng những gì đối phương thích, đừng tặng những thứ bạn muốn người ta thích".
+ Chọn mua quà tặng hội thảo như thế nào?

Đối với các công ty, thì việc tổ chức các sự kiện hội thảo là không thể thiếu,để tri ân hoặc kỉ niệm đếncác khách hàng và quảng bá thương hiệu, họ thường chọn các món quà nhỏ có đính kèm logo của công ty.
Các món quà tặng kèm phải mang lại hiệu quả kinh tế cho công ty và hữu ích cho khách hàng. đặc biệt đối với những công ty mà đối tượng khách hàng hoặc đối tác là nữ, thì chúng ta có thể tặng các món nữ trang xinh xắn, hoặc 1 bộ mỹ phẩm dưỡng da, vừa có tác dụng làm đẹp cho chị e phụ nữ vừa mang lại nhiều ấn tượng tốt đẹp cho công ty.

+ Doanh nhân tặng quà như thế nào...

Cũng như câu "của cho không bằng cách cho" đối với những doanh nhân, việc tặng quà cho đối tác, khách hàng ... Vào các ngày lễ, kỷ niệm là không thể thiếu. Để có được món quà vừa ý dành cho đối tượng đòi hỏi phải tốn khá nhiều công sức. Nhưng không có nghĩa là món quà càng đắt giá càng tốt, có thể tuỳ vào sở thích,nhu cầu của đối tượng mà lựa họn những món quà phù hơp..vừa mang lại hiệu quả kinh tế, vừa tinh tế trong việc tặng quà. giúp cho mối quan hệ càng bền vững thân thiết.

+ Tôi muốn tặng quà sếp, tôi phải chọn quà thế nào?

Tặng quà cho sếp nó khá quan trọng. Vì vừa thể hiện được sự tôn trọng của mình với sếp, vừa thể hiện được đẳng cấp của người nhận quà. Mình nghĩ, nếu là sếp nam, nên chọn 1 chai rượu ngoại, hoặc nếu có đi nước ngoài, nên mua 1 cây thuốc lá ngoại (loại không có ở VN) để tặng (lưu ý sếp của bạn phải trẻ, sành sỏi về rượu và thuốc lá,..). Nếu là sếp nữ, một voucher spa chăm sóc toàn thân ở 1 spa danh tiếng chắc chắn sẽ lấy điểm được với sếp (lưu ý, sếp nữ này cũng phải trẻ và năng động nhé). Theo mình thì thế, còn các bạn cứ tuỳ tình hình các sếp mà tặng nhé.

+ Chọn giỏ quà tết như thế nào?

Một giỏ quà tết phải mang đầy đủ các ý nghĩa sung túc, thịnh vượng, an khang,… Giỏ quà tết phải vừa chất lượng (nhiều bánh trái, hoa quả, rượu, nước ngọt,…thể hiện sự sung túc), vừa có nhiều màu sắc xanh đỏ vàng, thể hiện sự muôn màu muôn vẻ thịnh vượng an khang. Ngoài ra, mình cũng nên có 1 món quà nho nhỏ đặc biệt của riêng mình, vậy thì giỏ quà tết gửi tặng họ hàng, bạn bè thêm phần ý nghĩa.

+ Quà Tết biếu thế nào vừa sang vừa 'hợp ví'?

Vào những ngày tết, mọi người thường tặng nhau những món quà kèm theo những lời chúc tốt đẹp.đó là truyền thống tốt đẹp lâu đời của dân tộc ta, ngày xưa người ta thường tặng nhau những món như mứt, trà xanh, bánh giò.....nhưng ngày nay thì không còn giới hạn cho những món quà đó. tuy nhiên bạn có thể chọn những món quà sang trong, ý nghĩa nhưng lại không quá đắt tiền, bạn có thể tặng 1 bộ sản phẩm dưỡng da cho 1 đối tác là nữ, 1 hộp rựu tây cho khách hàng là nam, 1 gói quà có đủ bánh kẹo nước trái cây cho bạn bè..v..vv. Những món quà tuy nhỏ, nhưng mang đầy đủ thông điệp yêu thương mà người tặng muốn gửi gắm.

+ Tặng quà sinh nhật cho con gái thế nào?

Tăng quà sinh nhật cho con gái, nếu đó là người yêu thì sẽ không quá nhiều khó khăn, nhưng đối với người con gái mà bạn đang tăm tia thì quả là 1 vấn đề nan giải.nhưng theo mình thấy thì món quà không quan trọng bằng cách bạn tặng, nếu bạn có thể làm được điều đó thì ấn tượng của người ấy đối với bạn là không nhỏ. tuy nói vậy nhưng món quà cũng không nên quá xuề xoà,qua loa.. chúc bạn thành công

Chọn mua quà tặng 8/3 như thế nào?

8/3 là một dịp gửi đến những người mẹ, người chị, người vợ, em gái,…những món quà nho nhỏ thế hiện lòng yêu mến của mình với họ. Theo mình, quà 8/3 không nhất thiết phải thật đắt tiền, một cành hoa, một tấm vé đi xem phim cùng họ, một chiếc váy mà họ rất thích từ lâu, hoặc một chiếc lắc tay xinh xắn...tất cả sẽ rất ý nghĩa và đáng yêu, nếu món quà đó mang đến cho người nhận niềm bất ngờ.


18:10  Unknown

Testy

Chiến thắng đáng kinh ngạc của Rafael Nadal tại US Open ngày thứ hai đã dẫn đến nhiều tự hỏi cho dù người Tây Ban Nha 27 tuổi có thể bây giờ đi vào trở thành cầu thủ vĩ đại nhất trong lịch sử. Tất cả mọi người sẽ có cái nhìn riêng của họ, nhưng có vẻ như một thời gian phù hợp sau đó ở giữa một thời đại tuyệt vời của bóng phải tái thẩm định 10 cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại.


1. Roger Federer
Có thể không có tranh chấp về những người hiện đang xứng đáng tiêu đề trong những vĩ đại nhất mọi thời đại. Một kỷ lục 17 danh hiệu Grand Slam--và đếm--sẽ là đủ để làm cho trường hợp của Federer, nhưng Thạc sĩ Thụy sĩ là nhiều hơn chỉ cần danh hiệu. Khi người chơi bị ám ảnh bởi câu lạc bộ đi ngủ vào ban đêm họ ước mơ của chỉ một lần có thể chơi như Federer. Đến một mức độ lớn hơn nhiều so với bất kỳ những người đương thời của ông ở đầu của trò chơi, nó rất dễ dàng để tưởng tượng Federer excelling trong một tuổi gỗ vợt trước khi một vợt cụ đã là nhiều hơn một cây đũa phép hơn một công cụ cùn. Một kỷ lục đáng kinh ngạc của, trước khi Wimbledon năm nay, đã đạt đến 36 Grand Slam Tứ kết nói tập, không chỉ cho ông sáng chói bền vững, mà còn cho những ân huệ mà ông chơi và di chuyển mà cho phép anh ta để tránh chấn thương có ảnh hưởng nhiều đối thủ của ông.

2. Rafael Nadal
Tám danh hiệu Pháp mở rộng có nghĩa là người đàn ông từ Mallorca có thể mà không do dự yêu cầu bồi thường là chương trình tòa án đất sét vĩ đại nhất mọi thời đại, nhưng ông đã trở thành nhiều hơn chỉ là bậc thầy của avlaklarında terre. Trong suốt sự nghiệp của mình Nadal đã hiển thị một không ngừng quyết tâm không chỉ để đấu tranh cho mỗi điểm nhưng để liên tục cải thiện mình như là một cầu thủ và trở thành một người chiến thắng trên tất cả các bề mặt. Fortitude đó cũng là trách nhiệm của mình phục hồi không thể xảy ra từ một chấn thương đầu gối đã có một số nhà quan sát đã chuẩn bị của ông ca tụng bóng chỉ một năm trước đây. Thay vào đó, ông trở lại và rất thích cho là của mình năm tốt nhất được nêu ra, mà đỉnh cao là tham gia trò chơi của mình khác thành cấp tại Mỹ mở rộng. Căng thẳng mỗi sinew cơ thể của mình cho mỗi điểm có thể ngăn chặn anh ta từ có tuổi thọ cùng của sự thành công như Federer - người đàn ông người trong nhiều cách của ông đối diện phong cách--nhưng nó sẽ là không khôn ngoan nhất để đặt cược chống lại nó.

3. Pete Sampras
Với danh hiệu Grand Slam 14 để tên của mình và 286 tuần xếp hạng là người chơi tốt nhất trên thế giới - thứ hai chỉ để Federer - Sampras là một máy chiến thắng. Của mình danh hiệu Wimbledon chung kỷ lục 7 nói nhiều về chất lượng của cả hai của mình đầu tiên phục vụ và có lẽ nhiều hơn đặc biệt là của ông thứ hai phục vụ, cả hai đều có thể cũng là lớn nhất bao giờ. California với một nền tảng Hy Lạp là một hiện tượng phục vụ và volleyer trong một thời đại mà chiến lược đáng sợ đó vẫn làm việc. Tuy vậy, ông cũng có thể cắt giảm nó từ phía sau của tòa án, với một trái tay một tay tốt và một giật gân chạy bộ phận trước. Knock duy nhất chống lại tên của ông không có được vượt quá bán kết tại Roland Garros.

4. rod Laver
Có danh sách này bao gồm các thành tựu trước khi thời đại mở sau đó nó có khả năng rằng tên lửa"" sẽ có thậm chí cao hơn trong danh sách. Đã giành được một năm dương lịch Grand Slam trong năm 1962, người Úc sau đó dành sáu năm như là một kẻ ngoài lề sau khi thực hiện các quyết định chuyển chuyên nghiệp, mà làm cho anh ta không đủ điều kiện để cạnh tranh trong Grand Slam. Khi giải đấu lớn trở thành mở cửa cho tất cả người chơi, nghiệp dư và chuyên nghiệp, Laver nhanh chóng giành Wimbledon năm 1968 trước khi tham gia một đợt càn quét sạch của Grand Slam năm sau đó trong một thời kỳ mở hồ sơ 17 tiêu đề.

5. Bjorn Borg
Tích lũy danh hiệu Grand Slam 11 là một thành tựu đáng kinh ngạc và đó là trước khi bạn xem xét một thực tế rằng họ đã được tất cả đạt được bởi một ngày sau khi sinh nhật 25 của Borg. Hưu chỉ hơn một năm sau đó vào năm 1983 đã gửi shockwaves không chỉ thông qua bóng mà còn thông qua thế giới rộng lớn hơn nơi người Thụy Điển với các ổ khóa chảy tóc vàng đã trở nên khá nổi tiếng. Borg là iceman và không ngừng baseliner các trò chơi bốc lửa, tất cả-tòa án của đối thủ lớn của ông John McEnroe. Tất cả của ông thắng Grand Slam đến tại Pháp mở rộng và Wimbledon, với thành tích của ông của đã giành được cả hai giải đấu back-to-back trong ba năm liên tiếp có lẽ không bao giờ để được kết hợp. Cho rằng ông chỉ chơi giải Úc mở rộng một lần, trong một thời đại mà các cầu thủ hàng đầu thường đã cho chuyến đi dài một Hoa hậu, kết hợp với ông nghỉ hưu sớm, một trong những chỉ có thể tưởng tượng bao nhiêu grand slam Borg có thể đã chiến thắng.

6. Andre Agassi
Các nguồn gốc Las Vegas bắt đầu sự nghiệp của mình như là người đàn ông hoang dã rực rỡ của quần vợt và kết thúc nó như là đại sứ được tôn trọng nhất của môn thể thao. Ở giữa, Agassi tích lũy tám danh hiệu Grand Slam trong một nghề nghiệp có kinh nghiệm cao nhất exhilarating và nghiền thấp. Một số returners tốt nhất của tất cả thời gian, ông đã có một phối hợp tay-mắt đặc biệt mài giờ thực hành như là một trẻ em dưới sự giám sát của cha ông nghiêm ngặt cho phép anh ta đứng trên đường cơ sở và di chuyển các đối thủ của mình từ phía bên như trên một mảnh chuỗi. Đã thực hiện bước đột phá của mình các địa điểm ở hầu hết khả năng của Wimbledon, Agassi trượt để 141 trong thế giới và dường như mờ dần ra khỏi các môn thể thao do vấn đề cá nhân vào năm 1997.

Thứ Bảy, 1 tháng 3, 2014

00:54  Cà Phê Nguyên Chất Sơn Trang

Dịch bệnh trên tôm, cá tra diễn biến phức tạp

Xuất khẩu thủy sản năm nay được dự báo tiếp tục tăng trưởng, lợi nhuận thu được từ hoạt động nuôi thủy sản sẽ khá…, là động lực thúc đẩy nông dân mạnh dạn xuống giống; tuy nhiên đây lại là nguyên nhân khiến dịch bệnh trên thủy sản nuôi (tôm và cá tra) ở ĐBSCL tiếp tục diễn biến phức tạp.
Một nông dân huyện Tân Phú Đông, Tiền Giang đang kiểm tra tôm nuôi. 
Phát biểu tại hội thảo “Giải pháp nâng cao hiệu quả nuôi trồng thủy sản” được tổ chức tại TP. Cần Thơ vào hôm nay (27-2), tiến sĩ Bùi Thị Bích Hằng, Khoa thủy sản Đại học Cần Thơ, cho biết, hoạt động nuôi trồng thủy sản trong năm vừa qua gặp rất nhiều khó khăn, dịch bệnh diễn biến phức tạp, dù một số bệnh đã xác định được tác nhân gây ra (chẳng hạn dịch bệnh hoại tử gan tụy cấp (EMS) trên tôm được xác định do vi khuẩn có tên Vibrio parahaemolyticus gây nên- PV).

“Đối với cá tra, năm 2013 toàn vùng ĐBSCL có đến 732 héc ta bị nhiễm bệnh, tập trung vào 3 loại bệnh chủ yếu là gan thận mủ (chiếm 48%), xuất huyết (32%), ký sinh trùng (4%) và phần còn lại là các loại bệnh khác. Còn đối với con tôm, dù diện tích bị nhiễm bệnh có giảm so với cùng kỳ năm trước nhưng vẫn còn khá cao, hơn 5.700 héc ta bị thiệt hại", bà Hằng dẫn chứng.

Nguyên nhân khiến dịch bệnh trên thủy sản nuôi, đặc biệt đối với con tôm, diễn biến phức tạp được lý giải do tình hình xuất khẩu tăng trưởng tốt (năm 2013 xuất khẩu tôm tăng khoảng 33% so với cùng kỳ), nhu cầu tiêu thụ nguyên liệu tăng cao với giá tốt nên nông dân ồ ạt mở rộng diện tích/thả nuôi ngay trong vùng đang xảy ra dịch bệnh, bất chấp khuyến cáo của các nhà chuyên môn.

Theo bà Hằng, trong năm 2014 này, dịch bệnh trên thủy sản nuôi vẫn sẽ diễn biến phức tạp. Đối với con tôm được dự báo sẽ bị ảnh hưởng lớn bởi dịch đốm trắng, bệnh còi và đặc biệt là hội chứng EMS. “Riêng đối với cá tra, bệnh gan thận mủ, xuất huyết, trắng đuôi và ký sinh trùng…, là những loại bệnh được dự báo tiếp tục bùng phát và gây hại đối với loại thủy sản này trong năm nay”, bà Hằng cho biết.

Theo một số nhà chuyên môn tham dự hội thảo, để kéo giảm tình trạng dịch bệnh trên thủy sản nuôi, ngoài việc tuân thủ quy định lịch thời vụ, mật độ thả giống, vệ sinh xử lý ao nuôi tốt…, thì việc sử dụng thuốc, chất kháng sinh là rất cần thiết. “Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc và chất kháng sinh như thế nào để vừa bảo vệ được thủy sản nuôi vừa đảm bảo chất lượng sản phẩm phục vụ cho xuất khẩu là một yêu cầu khó khăn, đòi hỏi người nuôi phải hết sức cẩn trọng”, bà Hằng cho biết.

Hiện nay trên thị trường có nhiều sản phẩm diệt khuẩn, tiêu diệt mầm bệnh trong ao nuôi, chất lượng nhất và an toàn nhất phải nghĩ ngay đến N200 Pro công nghệ nano bạc. Sản phẩm có bán tại website http://www.chephamsinhhoc.net
HotLine : 08 350 31 351 hoặc 0989 311 858
Chế phẩm nano bạc trong nuôi trồng thủy sản



Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014

20:50  Cà Phê Nguyên Chất Sơn Trang

Liên kết sản xuất cây ăn quả

Mặc dù có quỹ đất khá lớn để phát triển cây ăn quả đặc sản, mang lại giá trị kinh tế cao, song thống kê cho thấy, Thanh Hóa mới chỉ trồng được hơn 14.000 ha cây truyền thống như dứa, cam, xoài, nhãn, chuối… Trong đó, diện tích dứa giảm mạnh từ 3.789 ha (2005) xuống 1.910 ha (2011) do thị trường tiêu thụ không ổn định.

Để phát huy hết tiềm năng đất đai, tỉnh Thanh Hóa đã giao cho Hội Làm vườn & trang trại của tỉnh xây dựng một số mô hình trồng cây ăn quả mới như bưởi da xanh, bưởi Diễn, thanh long ruột đỏ... để nhân ra diện rộng. Đồng thời, tổ chức các buổi tạo đàm liên kết SX cây ăn quả với các chuyên gia khu vực phía Nam, nhằm từng bước hình thành các vùng cây ăn quả tập trung, áp dụng tiến bộ kỹ thuật kết hợp các loài cây đặc sản.

Mở rộng diện tích trồng bưởi là định hướng
phát triển hàng đầu của SX cây ăn quả ở Thanh Hóa
Ông Lê Xuân Len, Chủ tịch Hội Làm vườn & trang trại Thanh Hóa cho biết, toàn tỉnh có khoảng 20.000 ha đất phù hợp phát triển cây ăn quả. Trong đó, tập trung nhiều ở các huyện Như Xuân, Như Thanh, Ngọc Lặc, Cẩm Thủy, Thạch Thành, Thọ Xuân, Yên Định, Hà Trung, Tĩnh Gia, Nga Sơn… Việc liên kết với doanh nghiệp và các chuyên gia miền Nam để đưa các giống cây ăn quả mới, đặc sản vào SX là rất cần thiết.

Theo phân tích của ông Len, từ nay đến năm 2020, Thanh Hóa chủ yếu tập trung phát triển cây cam, nhãn, vải, chuối, dứa và một số cây ăn quả khác. Tuy nhiên những cây trồng trên hầu hết là cây truyền thống, chất lượng và sản lượng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường.

Vì thế, vừa qua Hội phối hợp với Cty CP Công nông nghiệp Tiến Nông đã mời các chuyên gia chuyên về cây ăn quả ở miền Nam ra cùng phối hợp với các hộ dân định hướng phát triển trong thời gian tới.

Một chuyên gia đến từ huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang chia sẻ: “Qua một vài mô hình trồng thí điểm cho kết quả khá tốt, tôi nghĩ bưởi da xanh có thể trở thành cây trồng chủ lực ở Thanh Hóa. Sắp tới đây nếu hộ dân nào muốn phát triển loại cây này tôi sẵn sàng cung ứng giống và ra Thanh Hóa để hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật”.

Cũng theo chuyên gia này, việc trồng bưởi da xanh thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào việc lựa chọn giống. Bên cạnh đó, kỹ thuật chăm sóc cũng phải tuân thủ theo quy trình kỹ thuật từ chọn đất, trồng, chăm sóc, bao chụp chùm hoa... và sử dụng chế phẩm sinh học (đặc biệt là chế phẩm vườn sinh thái cho cây ăn quả)

Ngoài du nhập, phát triển các loài cây ăn quả mới từ miền Nam, Thanh Hóa cũng đã và đang tập trung liên kết từ SX đến bao tiêu sản phẩm bưởi Diễn. Nông dân Đỗ Công Bưu, xã Yên Ninh, huyện Yên Định nhận định: “Việc phát triển, nhân rộng diện tích trồng bưởi Diễn ở Yên Ninh nói riêng, Yên Định nói chung là rất phù hợp bởi loài cây đặc sản này có thị trường tiêu thụ rất ổn định sẽ góp phần giúp nông dân chúng tôi thoát nghèo, vươn lên làm giàu nhanh chóng”.

Gia đình ông Bưu có 2 sào bưởi Diễn với hơn 60 gốc, được trồng từ năm 1993. Quá trình theo dõi cho thấy đây là loại cây phù hợp với đất đai, thổ nhưỡng ở xã Yên Ninh. Bình quân mỗi cây cho thu hoạch 80 quả, trọng lượng 1,2 kg (quả lớn nhất 1,5 kg).

“1 sào bưởi đầu tư hết khoảng 4 - 5 triệu đồng, đến kỳ thu hoạch thương lái từ Hà Nội về mua tại vườn với giá 35.000 đ/quả. Tính sơ sơ thì tổng thu nhập cũng đạt trên dưới 40 triệu đồng/sào, cao gấp hàng chục lần trồng các cây trồng khác”, ông Bưu chia sẻ. Được biết, xã Yên Ninh hiện có khoảng 20 hộ dân trồng bưởi Diễn, trong đó có 10 hộ trồng với số lượng lớn, một số hộ thu nhập hàng tỷ đồng/năm từ loại cây ăn quả này.

Tại buổi tọa đàm liên kết SX cây ăn quả được tổ chức gần đây, ý kiến của hầu hết các địa phương và nông dân đều mong muốn Thanh Hóa sẽ sớm chủ động được các sản phẩm cây ăn quả đặc sản như thanh long ruột đỏ, bưởi da xanh, nhãn chín muộn, bưởi Diễn, mít Thái, chuối tiêu hồng… phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.


Ông Nguyễn Hồng Phong, TGĐ Cty CP Công nông nghiệp Tiến Nông:
Để SX cây ăn quả trở thành cây mũi nhọn ở Thanh Hóa thì Nhà nước và doanh nghiệp phải cùng vào cuộc làm "bà đỡ" cho nông dân. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ bà con cải tạo vườn tạp; xây dựng quy hoạch và quy trình cho từng cây ở từng vùng. Còn doanh nghiệp sẽ hỗ trợ các hoạt động xúc tiến thương mại, tìm đầu ra cho sản phẩm và khâu chế biến sau thu hoạch.

Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

02:35  Cà Phê Nguyên Chất Sơn Trang

Cử nhân kinh tế đi nuôi lươn

Vốn đầu tư không lớn, lại mang về hiệu quả kinh tế cao, nhiều nông dân ở TP HCM, Bình Dương đã quyết định đến với nghề nuôi lươn trong bể bê tông, thu về cả trăm triệu đồng mỗi vụ.

Nuôi lươn trong bể... bê tông, thu tiền triệu

Tốt nghiệp trường Đại học Kinh tế TP HCM và từng có thời gian hăng say kinh doanh chứng khoán, bất động sản, nhưng khi hai thị trường này không còn "hái ra tiền" do suy thoái kinh tế, anh Nguyễn Văn Hoàng (35 tuổi) quyết định chuyển hướng sang một ngành nghề hoàn toàn mới lạ với dân thành thị, đó là nuôi lươn trong bể bê tông.

"Nhìn vốn liếng ngày càng cạn dần, tôi quyết định phải tìm một mô hình kinh doanh khác ít rủi ro và bền vững hơn", anh Hoàng chia sẻ. Trong một lần tình cờ tham gia diễn đàn dành cho các nhà đầu tư, anh phát hiện ra nghề nuôi lươn đang rất phổ biến ở đồng bằng sông Cửu Long cho lợi nhuận cao, sẵn máu kinh doanh trong người, anh quyết tâm dành thời gian tìm hiểu.

Sau nhiều tuần nghiên cứu về kỹ thuật, ích lợi từ việc nuôi lươn, anh Hoàng chắc chắn "nuôi lươn chính là nghề hái ra tiền". Sẵn có mảnh đất bỏ không do chưa tìm được người mua ở Phường Thạnh Lộc, Quận 12, anh nung nấu ý định làm giàu với con lươn.
Khâu khó nhất của trong việc nuôi lươn là chọn giống
Ban đầu, anh cũng bị nhiều người thân, bạn bè ra sức can ngăn do "mình là dân kinh tế, không biết gì về kỹ thuật nuôi trồng thì rủi ro rất cao", nhưng sau khi trải qua thất bại nhiều lần, anh vẫn quyết tâm với ý tưởng kinh doanh này. Năm 2012, anh Hoàng đã liên hệ với một số trại giống, trung tâm thủy sản An Giang để thăm quan, học hỏi kinh nghiệm. Sau khi nắm vững kỹ thuật, đến cuối năm, anh bắt tay vào xây bể lươn đầu tiên với diện tích 6m2. Ban đầu, anh nuôi một ít để rút kinh nghiệm, sau thấy khả quan anh mạnh dạn đầu tư xây khoảng 20 bể. Ước tính, tổng tiền giống và công xây dựng trang trại đạt khoảng 300 triệu đồng.

Theo anh Hoàng, chọn giống chính là khâu quan trọng nhất trong quá trình nuôi. Lươn giống phải khoẻ mạnh, kích cỡ đồng đều, lưng có màu vàng sẫm, chấm đen, bơi lội nhanh nhẹn, không xây sát, thương tổn, mất nhớt. Việc xây bể và làm đường ống cũng phải cận thận để tiện cho việc thay nước, chăm sóc. Bên cạnh đó, vị cử nhân kinh tế này cũng chủ động tìm đối tác để tiêu thụ lươn nội địa và xuất khẩu.

Kết quả là sau 6 tháng, đàn lươn thịt đầu tiên được thu hoạch, sản lượng khoảng 8 tấn, theo giá lươn trên thị trường khoảng 160.000 đồng/kg, anh Hoàng thu về hơn trăm triệu đồng tiền lãi. Sau một năm triển khai, đến nay trang trại còn tiến hành cung cấp lươn giống cho các hộ nông dân và có kế hoạch mở rộng thêm số bể. "Ước mơ của tôi là có thể phục vụ cả khâu chế biến, thông qua mở cửa hàng lươn chiên giòn", anh Hoàng bày tỏ.
Anh Nguyễn Văn Hoàng mong làm giàu với mô hình nuôi lươn trong bể bê tông. 
Phạm Thanh Sơn - sinh viên khoa kỹ thuật hóa học của một trường đại học tại TP HCM cũng chia sẻ đang khởi nghiệp từ nghề nuôi lươn không bùn. "Nuôi lươn không khó, quan trọng là chịu khó học hỏi về công nghệ và kỹ thuật. Công việc này cho mình nhưng trải nghiệm mà những công việc bình thường như gia sư, bán hàng không có được và sẽ giúp ích lớn cho cuộc sống sau này", Sơn tâm sự.

Tự mày mò kỹ thuật nuôi lươn qua sách báo và các diễn đàn trên mạng, giữa năm 2013, với số vốn khoảng 40 triệu đồng của bản thân và bố mẹ hỗ trợ, Sơn cùng gia đình xây 2 bể lươn tại quê nhà Bình Dương. Trong những ngày đầu, cậu sinh viên này đi đi về về giữa hai nơi để trông coi việc xây bể và thả lươn giống, khi công việc dần ổn định, mọi việc được Sơn giao lại cho người thân trong gia đình và chỉ về khi có chuyện đột xuất hoặc được nghỉ học tại trường.

Hiện Sơn đang chờ đón lứa lươn đầu tiên, song cậu chia sẻ khó nhất vẫn là tìm đầu ra. "Khoảng tháng nữa lứa lươn của mình mới xuất, nhưng từ bây giờ mình đã liên hệ trước với một số đầu mối thu mua. Phải tự chủ động đầu ra thôi", Sơn hy vọng.

Tại Việt Nam, lươn là loài thủy sản phổ biến. Thịt ngon, bổ nên được người dân trong nước rất ưa chuộng, đặc biệt, lươn cũng là mặt hàng xuất khẩu được nhiều nước ưa thích, nhất là thị trường Trung Quốc. Để đáp ứng nhu cầu về lươn thương phẩm ngày càng tăng, phong trào nuôi lươn phát triển rất mạnh ở nhiều địa phương trong cả nước.

Ban đầu, người nông dân thường chọn kiểu nuôi truyền thống là trong bùn đất, nhưng mô hình này dần bộc lộ một số hạn chế như lươn chui rúc trong bùn nên khó theo dõi số lượng, tốc độ tăng trưởng, khả năng bắt mồi, dịch bệnh…để có thể có những biện pháp xử lý kịp thời. Do vậy, nhiều hộ dân đã chuyển sang nuôi lươn không bùn, được các nhà khoa học đánh giá cho hiệu quả cao gấp 5 - 6 lần, phù hợp với nhu cầu tiêu thụ lươn sạch.

Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

08:18  Cà Phê Nguyên Chất Sơn Trang

Canh tác không đất trong vùng nước nổi

Canh tác không đất là một kỹ thuật thực hành nông nghiệp nổi nhằm ứng phó với các biến đổi khí hậu làm cho nhiều châu thổ rộng lớn như ĐBSCL trở nên ngập lụt kéo dài vào mỗi mùa mưa lũ, một phần do thời tiết cực đoan thay đổi thất thường, do nền đất trầm tích lún chìm, nhưng quan trọng hơn cả là do nước biển dâng sẽ biến nhiều diện tích châu thổ thành các đồng ngập.

Canh tác không đất hay canh tác trên các bè nổi làm băng rơm rạ và cỏ lục bình không phải là một kỹ thuật mới, nhưng là kế thừa một truyền thống canh tác đã có lâu đời ở Đông Nam Á. Cho tới gần đây các bè nổi bằng rơm liên kết bởi thân cỏ lác hoặc lau sậy vẫn còn được nhìn thấy ở ĐBSCL, làm chỗ ở cho các loài gia cầm trong mùa nước nổi.
Nông dân ĐBSCL thu hoạch bông súng trong mùa nước nổi
Nông dân ĐBSCL thu hoạch bông súng trong mùa nước nổi

Trước đó loại bè này được nông dân tạo ra quanh những nhà sàn hay các trại ruộng làm nơi trồng rau để ăn vào mỗi mùa lụt. Nhưng nay kỹ thuật nông nghiệp nổi phát triển mạnh nhất ở Bangladesh, nơi có hàng ngàn ngôi làng với hàng triệu nông dân áp dụng.

Bangladesh không phải là một quốc gia hải đảo. Nhưng cứ mỗi mùa lụt kéo dài từ 4 - 5 tháng thì có tới một phần tư diện tích đất của quốc gia 156 triệu dân này chìm ngập dưới nước. Trận lụt năm 2004 ảnh hưởng đến 2/5 diện tích đất, 1/4 hoa màu bị tàn phá và hơn 10 triệu người bị mất nhà cửa. Biến đổi khí hậu đang làm cho mùa lụt ở đây trở nên tồi tệ và mọi người phải tìm những cách thức thích ứng cho cuộc sống.

Nông dân trong những vùng hàng năm chịu cảnh ngập lụt kéo dài đang áp dụng kỹ thuật canh tác không đất trên các bè nổi, gọi là baira hay dhap. Từ phong trào thực hành nông nghiệp nổi ở Bangladesh, nông dân nhiều nước cũng đang phục hồi truyền thống canh tác nổi của chính cha ông họ hoặc áp dụng kỹ thuật canh tác không đất được các viện nghiên cứu và tổ chức phi chính phủ đúc kết hướng dẫn.

Kỹ thuật làm bè nổi để canh tác khá đơn giản và tùy thuộc vào nguyên liệu tại chỗ, chủ yếu là thân các loài thủy sinh trôi nổi như rau muống hay cỏ lục bình, có nơi gọi là bèo lục bình hay bèo Nhật Bản.

Trung bình mỗi bè nổi có bề rộng từ 1,5 - 2 m, dài trong khoảng 15 - 50 m tùy vào vùng nước và dày trên dưới 30 cm tùy vào độ sâu ngập nước, hay có khi đến 60 - 90 cm để người và vật có thể đi lại trên đó. Nhiều bè nỗi tạo thành một vùng canh tác nổi, mới nhìn như thể các trang trại với những luống dài mà ở giữa là các rãnh nước dùng làm nơi ghe xuồng đi lại.

Người ta chọn một cây xoài, cây mít hay cây gáo giữa vùng ngập nước, hay cắm các thân cây tre để làm điểm cố định cho các bè nổi. Nông dân dùng sào kéo các mảng lục bình trôi nổi vào thành những luống, rồi gác thưa nằm ngang lên đó các cành hay thân nhỏ của những cây tre. Cứ sau mỗi lần gác tre lại đắp thêm một lớp cỏ lục bình cho đến khi đạt độ dày thiết kế.

Cuối cùng người ta phủ lên mặt bè nổi một lớp mùn đất hay bùn hữu cơ phân hủy lấy ngay bên dưới ruộng ngập. Khoảng 7 ngày sau, cấu trúc bè nổi bắt đầu ổn định và người ta phủ lên mặt một lớp đất giàu chất dinh dưỡng rồi bắt đầu canh tác cho đến hết mùa nước nổi.

Các nhà khoa học đang nhận ra giá trị to lớn của kỹ thuật canh tác nổi truyền thống đã mai một này, cả về mặt kinh tế và xã hội. Tiến sĩ Papon Deb, Giám đốc Dự án cộng đồng phát triển tài nguyên đất ngập nước (WRDS) cho biết sản lượng của hệ thống canh tác nổi ở vùng đông nam Bangladesh cao gấp 10 lần so với cùng loại cây trồng canh tác trên cạn.

Rezaul Haq, nhà nghiên cứu tại WRDS cho biết nơi làng Chandra trong vùng dự án, nông dân trồng 23 loài rau và 5 loài cây gia vị, bao gồm mướp, dưa leo, bầu, bí, các loài cà, đậu, cà chua, củ cải, cần tây, cà rốt, gừng, tỏi… Chúng phát triển rất mạnh, cho sản lượng cao, gần như không nhiễm sâu bệnh, mặt khác lại chẳng cần quan tâm đến việc tưới nước hay bón thêm phân.

Tuy không có con số đo đạc cụ thể, các nhà nghiên cứu cho biết lượng tôm cá trong vùng nông nghiệp nổi sinh sôi rất nhanh, một phần được nông dân thu hoạch tại chỗ, phần khác được ngư dân đánh bắt khi chúng di chuyển vào các dòng sông.

Chưa kể tới nguồn lợi thủy sản, thêm công ăn việc làm cùng các ảnh hưởng tích cực đến môi trường và đời sống xã hội thì hệ thống canh tác nổi đang tạo nên nguồn thu nhập rất lớn cho nông dân nghèo khó trong các vùng sâu vùng xa, và đó là lý do nông nghiệp nổi được nhiều nông dân ở các nước áp dụng.

Nông nghiệp nổi đang là một giải pháp tích cực để ứng phó với biến đổi khí hậu, biến các vùng đồng ngập nhiều tháng mỗi năm thành những diện tích canh tác năng suất cao.

Kỹ thuật canh tác không đất hay canh tác nổi sẽ tùy thuộc rất lớn vào thời gian chìm ngập ở từng địa phương, vào nguồn nguyên liệu tạo bè, vào thị trường nông sản, và cả vào điều kiện vận chuyển hay nơi bảo quản.

Các vùng nông nghiệp nổi đang mang trong mình 5 lợi điểm chung là biến đất ngập lụt thành diện tích canh tác cho năng suất cao, chất lượng tốt mà ít sâu bệnh; việc canh tác không cần tưới nước hay bổ sung phân bón; bè nổi đã qua sử dụng một mùa trở thành phân bón cung cấp dinh dưỡng cho vụ canh tác tiếp theo trên cạn; bè nổi được dùng làm nơi chăn nuôi trong mùa nước lũ và cuối cùng người nông dân vừa thu hoạch được nông sản, thịt trứng, lại vừa đánh bắt được nhiều tôm cá.

07:57  Cà Phê Nguyên Chất Sơn Trang

Doanh nghiệp nông sản tươi sẵn sàng khi hội nhập

Chương trình điều tra Hàng Việt Nam chất lượng cao 2014 (HVNCLC) lần đầu tiên mở rộng thêm ngành hàng sản xuất và cung ứng nông sản tươi. Vì sao ngành này lại được chọn năm nay và trước những thách thức khi Việt Nam gia nhập các Hiệp định thương mại thì họ đã làm gì?...

Chuyên gia Hà Lan hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc hoa ở vươn hoa công ty Hoa Đất Việt 
Vì sao chọn nhóm ngành mới

Trong một xã hội ngày một phát triển và thị trường ngày càng hội nhập thì sản xuất nông sản theo quy trình chuẩn, đảm bảo vệ sinh an toàn, đã và đang khẳng định là hướng đi tất yếu nhằm đảm bảo các yếu tố về môi trường, an toàn cho người sản xuất và người sử dụng sản phẩm. Nhiều mô hình sản xuất hoa quả tươi, rau an toàn theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP… đã được các doanh nghiệp áp dụng và thị trường ghi nhận điều này. Xuất phát từ đó, lần đầu tiên hội DNHVNCLC điều tra một ngành hàng mới: hoa tươi, rau quả tươi của các doanh nghiệp sản xuất có quy trình từ chọn giống, thu hoạch, chế biến, bảo quản, phân phối đạt các chuẩn an toàn và sạch. Có bảy doanh nghiệp trong ngành được bình chọn (trong 80 doanh nghiệp đạt lần đầu): CTCP Nông sản thực phẩm Lâm Đồng, công ty TNHH Agrivina (Dalat Hasfarm), công ty TNHH MTV Trái cây Long Khánh, công ty SX – TM – DV Hoa Đất Việt, công ty TNHH Trại nấm Việt Phước, HTX Nông nghiệp Thỏ Việt, HTX Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Anh Đào.


Một điều dễ nhận thấy, mặc dù miền Tây Nam bộ được coi là vựa trái cây lớn của cả nước, tuy nhiên những doanh nghiệp trong ngành mới (nông sản tươi) lại tập trung tại vùng Đông Nam bộ. Như vậy, có thể thấy rằng, mặc dù không phải là vùng có nguồn nguyên liệu đa dạng và phong phú nhưng những doanh nghiệp trên đã biết cách nắm bắt cơ hội, phát triển thương hiệu, phát triển thị trường, đầu tư sản xuất để sản phẩm của mình đạt chất lượng và có độ phủ rộng hơn.

Ông Trần Tuấn Anh, giám đốc công ty SX – TM – DV Hoa Đất Việt cho hay: “Ngay từ những ngày đầu thành lập, Hoa Đất Việt đã ý thức được việc nhận diện thương hiệu qua hệ thống nhãn hiệu, bao bì sản phẩm, thiết kế cửa hàng, đồng phục nhân viên... chúng tôi đầu tư hệ thống nhà kính hiện đại, áp dụng các kỹ thuật sản xuất, trồng trọt tiên tiến. Bên cạnh đó là việc chuyển giao công nghệ đối với các hộ nông dân cung cấp hoa cho công ty, để đảm bảo chất lượng sản phẩm được đồng nhất”.

“Cùng với việc đầu tư cho thiết bị máy móc trong ngành, chúng tôi cũng liên tục tìm hiểu thị trường, kịp thời nắm bắt nhu cầu ngày càng gia tăng của khách hàng để đưa vào sản xuất những sản phẩm mới có chất lượng cao cho thị trường”, ông Huỳnh Văn Hải, giám đốc công ty TNHH MTV Trái cây Long Khánh cho biết. Hiện nay, mỗi tháng công ty TNHH MTV Trái cây Long Khánh cung cấp cho các siêu thị như Co.opmart, BigC… ở khu vực Đông Nam bộ từ 50 – 60 tấn hoa quả đã qua sơ chế với doanh thu khoảng 3 tỉ đồng.

Trong khi đó, ông Nguyễn Đức Anh, công ty TNHH Trại nấm Việt Phước nhận định rằng, ngành nông sản tươi trong đó có ngành sản xuất nấm có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển ở Việt Nam như về đặc điểm khí hậu và thổ nhưỡng về nguồn nguyên liệu… nếu chúng ta biết vận dụng công nghệ và kỹ thuật cùng với việc mở rộng thương hiệu, mạng lưới cung cấp thì sẽ ổn định được đầu ra cho sản phẩm.

Thách thức trong bối cảnh hội nhập

Trước bối cảnh thị trường đang gia tăng áp lực từ việc có thể ký kết hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), hình thành cộng đồng kinh tế chung ASEAN +1, các FTA với EU và các nước… Việt Nam, một nước nông nghiệp, có thể nhìn thấy cơ hội để ngành nông nghiệp phát triển lên một tầm cao mới. Tuy nhiên, để được tham gia vào sân chơi hội nhập này ngành nông nghiệp Việt Nam sẽ phải đối mặt với rất nhiều thách thức.

Khi đó, việc giảm thuế sẽ dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng lượng hàng nhập khẩu từ các nước vào Việt Nam với giá cả cạnh tranh. Hệ quả là doanh nghiệp đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt, thị phần hàng hoá của Việt Nam sẽ bị thu hẹp, thậm chí là nguy cơ mất thị phần nội địa. Nguy cơ này đặc biệt nguy hiểm đối với nhóm hàng nông sản, việc bị thua trên “sân nhà” là điều khó tránh nếu không có chiến lược đúng đắn.

Ông Trần Tuấn Anh thẳng thắn cho rằng ở Việt Nam, việc sản xuất hoa tươi tuy có truyền thống lâu đời nhưng vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ ở quy mô hộ gia đình, vẫn còn ít các doanh nghiệp có quy mô lớn, do đó các kỹ thuật trồng trọt, thu hoạch và xử lý sau thu hoạch còn hạn chế, làm giảm đáng kể chất lượng hoa thương phẩm. “Khi các hiệp định được ký kết và có hiệu lực, nhiều đối thủ cạnh tranh có tiềm lực mạnh sẽ gia nhập vào thị trường, gây áp lực không chỉ cho Hoa Đất Việt mà còn cho các doanh nghiệp nông sản khác tại Việt Nam. Để đối phó với khó khăn, các doanh nghiệp cần chú trọng áp dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất, đặc biệt là khâu bảo quản sau thu hoạch, hoàn thiện hệ thống phân phối”…

Đa phần những doanh nghiệp nông sản tươi đi lên từ những hộ gia đình, vì thế họ chưa có một nền tảng cần thiết để có thể quản lý và phát triển doanh nghiệp của mình, “Mong rằng khi vào hội DNHVNCLC chúng tôi sẽ được học tập những kinh nghiệp về quản trị, về nguồn vốn, về thị trường và công nghệ sản xuất để có thể sống được không những ở thị trường trong nước mà còn xuất khẩu sang các nước ASEAN hay các nước trong Hiệp định TPP” – Ông Nguyên Đức Anh, phó giám đốc công ty TNHH Trại nấm Việt Phước tâm sự.

Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

22:39  Cà Phê Nguyên Chất Sơn Trang

Nẫu lòng vì giá rau


Những ngày này, chúng tôi đến làng Vân Nội (huyện Đông Anh) - một trong những vùng trồng rau trọng điểm của Hà Nội, trong cái lạnh tê tái. Những nông dân vẫn miệt mài thu hoạch rau. Oằn lưng gánh những bao tải cải bắp, su hào xanh non mỡ màng, cây nào cây nấy đều to, chắc tay, mà nét mặt người dân vẫn rầu rĩ.
Đặt gánh bắp cải lên bờ, chị Lê Thị Nga buồn bã cho hay: "Cũng như mọi năm, cách tết khoảng 2 tháng thì bắt tay vào trồng, chăm bón mạnh, để mong dịp tết và rằm tháng giêng, có thể “kiếm” một khoản kha khá để đầu tư cho vụ kế tiếp. Nào ngờ, thời tiết năm nay nắng ấm, rau phát triển nhanh... nhưng đến khi thu hoạch, giá rẻ như bèo. Hai bao tải bắp cải gần 50 cây mà bán ra chưa mua được nổi một cân thịt lợn. Thôi thì rẻ cũng phải bán tháo, bán hắt được đồng nào hay đồng đó, bù vào tiền phân, gio chăm bón, chứ để quá lứa cũng vứt đi, hơn nữa cũng phải dọn ruộng để trồng vụ mới”.
Ông Nguyễn Văn Công, đang chặt su hào ở ruộng kế bên tiếp lời: "Vụ đông năm nay su hào to mỡ màng, giá chưa đến 50 đồng/củ mà cánh tiểu thương vẫn chê ỏng, chê eo. Gia đình tôi có 2 sào trồng rau, màu. Mỗi năm trồng 3-4 vụ. Ra tết, giá vẫn rẻ thế này, đổ đi thì tiếc, nên cả tuần nay tôi mang bán, mong gỡ được phần nào tiền phân bón".
Theo những người trồng rau ở đây, với số tiền đầu tư như giống, phân bón, tiền điện tưới nước... công sức chăm bón hơn 2 tháng trời, mỗi sào rau cần đầu tư khoảng 2 triệu đồng. Mà với giá bán hiện chưa tới 500 đồng/củ su hào, 1 kg xà lách; cải bắp 1.500đồng/cây, cải cúc 1.000đồng/mớ... thì chỉ mong gỡ lại được phần nào chi phí cũng đã là may. Việc rau xanh quá rẻ khiến các bà nội trợ vui, nhưng dân trồng rau thì âm thầm nuốt nước mắt.
Thời điểm này, người dân ở các vùng chuyên trồng rau (Thanh Trì, Hoài Đức, Đan Phượng...) đang tập trung thu hoạch để trồng vụ mới. Được mùa - mất giá, được giá - mất mùa là chuyện buồn muôn thuở chưa có hồi kết mà nông dân ở nhiều nơi đang phải gánh chịu. (http://www.chephamsinhhoc.net/)

08:17  Cà Phê Nguyên Chất Sơn Trang

Sản xuất khoai tây giống sạch bệnh

Hiện mỗi năm Việt Nam phải nhập hàng nghìn tấn giống khoai tây từ Hà Lan, Đức, Australia; chưa kể có tới 70% lượng giống đang sử dụng được nhập nội chủ yếu theo con đường không chính thức, chất lượng kém.

Trong khi đó, hệ thống SX khoai tây trong nước theo dự án "Nghiên cứu hoàn thiện và phát triển công nghệ SX củ giống khoai tây chế biến bắt nguồn từ công nghệ nuôi cấy mô kết hợp với công nghệ khí canh" do các nhà khoa học thuộc Viện Sinh học nông nghiệp, Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội tiến hành có thể cho khoảng 2 triệu củ giống gốc mỗi năm, 150 tấn giống nguyên chủng và 1.000 - 1.200 tấn giống xác nhận có chất lượng tương đương nhập nội.

Khoai tây có giá trị cao trong SX vụ đông miền Bắc
Dự án đang được triển khai không những giúp giảm thiểu chi phí mà còn hứa hẹn thúc đẩy ngành SX khoai tây theo hướng hàng hóa.

GS.TS Nguyễn Quang Thạch, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Sinh học nông nghiệp, Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội cho biết: Kết quả nghiên cứu khẳng định, việc tổ chức SX tại chỗ củ giống sạch bệnh là hoàn toàn khả thi, đồng thời đã đề xuất được quy trình. Mục tiêu của dự án là làm tiền đề cho việc hình thành hệ thống SX giống khoai tây sạch bệnh tại Việt Nam.

Trên cơ sở công nghệ đã được hoàn thiện và chuyển giao thành công, dự án đã đề xuất với Bộ NN-PTNT hình thành chương trình giống khoai tây, góp phần thúc đẩy phát triển SX một cách chủ động và bền vững.

Sau gần 2 năm thực hiện, dự án đã thu được nhiều kết quả khả quan. Tính đến tháng 6/2013, các nhà khoa học đã lựa chọn được bộ giống khoai tây thích hợp cho chế biến. Đó là các giống Atlantic, Megechip, Beacon chipper. Hàm lượng chất khô của các giống từ 21 - 23%, tinh bột từ 18 - 21%, đường khử 0,025 - 0,035%, phù hợp với tiêu chuẩn cho chế biến.

Cũng trong thời gian qua, nhóm dự án đã tìm ra điều kiện khử trùng tốt nhất đối với mầm cây khoai tây, nền môi trường thích hợp nhất đối với sinh trưởng của mầm mẫu, điều kiện xử lý ra củ, độ tuổi cây thích hợp cho việc xử lý ra củ...

Các nhà khoa học đã tiến hành điều tra xác định vùng cách ly để SX củ giống khoai tây và lựa chọn nơi thích hợp nhất là huyện Quế Võ, Bắc Ninh. Đây là vùng có điều kiện tự nhiên phù hợp với khoai tây, nguồn nhân lực dồi dào, có kinh nghiệm trong SX.

Đặc biệt, địa phương này có chính sách rõ ràng cho việc định hướng phát triển SX cây khoai tây theo hướng hàng hóa nói chung, cho công nghiệp chế biến nói riêng và rất chú trọng đến việc xây dựng hệ thống SX giống tốt.

Với mô hình SX củ giống siêu nguyên chủng, nguyên chủng và xác nhận giống khoai tây chế biến đã được xây dựng, nhóm dự án đã triển khai ứng dụng kết quả vào thực tế. Kết quả thu được rất khả quan với 9,8 vạn cây giống gốc phục vụ cho SX củ siêu nguyên chủng; 1 triệu củ mini sạch bệnh để SX củ giống nguyên chủng; 90 tấn củ giống nguyên chủng dành cho SX củ giống cấp xác nhận; 200 tấn củ giống xác nhận đã ra đời.

Viện Sinh học nông nghiệp cho biết: Với khả năng góp phần giải quyết nhu cầu bức xúc về giống khoai tây tại không ít địa phương, công nghệ SX khoai tây giống sạch bệnh này đã thu hút sự quan tâm, đón đợi của nhiều đơn vị nghiên cứu, SX như các Sở KH-CN Lạng Sơn, Thái Bình, Trung tâm Giống cây trồng Quảng Ninh… Hiện các đơn vị này đang đợi được chuyển giao công nghệ.

Bên cạnh các địa phương, nhiều doanh nghiệp như Cty Cường Tân, Cty Đà Lạt GAP, Cty ORION đang đề nghị phối hợp để SX kinh doanh củ giống khoai tây chế biến. Trước mắt, dự án đã chọn Cty Cường Tân và Cty Đà Lạt GAP làm thành viên của dự án.

Theo tính toán của các nhà khoa học, sau khi giải quyết được nhu cầu về giống, khoai tây sẽ trở thành cây trồng chính ở vụ đông tại đồng bằng Bắc bộ và là ngành SX hàng hóa quan trọng.

Với tiềm năng thực sự có thể đạt đến 200.000 ha, năng suất 15 tấn/ha, trong vòng 3 tháng của vụ đông ngắn ngủi đã có thể thu được 3 triệu tấn củ.

Về lâu dài, nguồn lương thực này sẽ thúc đẩy ngành SX khoai tây hàng hóa phục vụ cho công nghiệp chế biến, giữ khoai tây là cây trồng chiến lược quan trọng trong cơ cấu cây trồng vụ đông ở Việt Nam.

Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

03:00  Cà Phê Nguyên Chất Sơn Trang

Đẩy mạnh phòng bệnh đốm trắng trên cây thanh long

Những tháng đầu năm diện tích thanh long nhiễm bệnh đốm trắng gần 2.400 lượt ha. Nhờ tăng cường tập huấn, hướng dẫn nông dân cách phòng trừ nên đến cuối tháng 5 giảm còn 44 ha. Tuy vậy vào tháng 6 do thời tiết mưa nhiều, độ ẩm cao nên bệnh đốm trắng trên cây thanh long có chiều hướng phát triển, diện tích bị nhiễm thêm 94 ha, nâng tổng số nhiễm bệnh đến nay trên cây thanh long toàn tỉnh Bình Thuận là 144 ha.


Viện Bảo vệ thực vật đã xác định tác nhân gây bệnh đốm trắng trên cây thanh long là nấm. Thời gian qua Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh triển khai làm nhiều thí nghiệm, để xác định loại thuốc BVTV phòng trừ nhưng chưa có kết quả. Hiện nay Chi cục BVTV đã có văn bản đề nghị 8 công ty sản xuất thuốc BVTV, hợp tác với Chi cục để làm khảo nghiệm phòng trừ bệnh đốm trắng. Ngoài ra Hội đồng Khoa học kỹ thuật tỉnh đã “đặt hàng” Khoa Bảo vệ thực vật Trường Đại học Nông lâm (TP Hồ Chí Minh) nghiên cứu bệnh này trong 2 năm (2013 - 2014) với kinh phí 630 triệu đồng, để nâng cao hiệu quả phòng trừ bệnh đốm trắng trên cây thanh long.

Do hiện nay chưa có thuốc đặc trị để phòng trừ bệnh đốm trắng, Sở Nông nghiệp & PTNT đã chỉ đạo Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh tập trung hướng dẫn và tập huấn cho người trồng thanh long các biện pháp canh tác như sử dụng chế phẩm sinh học, bón phân cân đối, tăng cường vệ sinh vườn trồng, thoát nước vườn cây để giảm độ ẩm nhằm phòng ngừa và hạn chế bệnh đốm trắng lây lan trên cây thanh long.

Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

02:30  Cà Phê Nguyên Chất Sơn Trang

Cấm tiệt thuốc BVTV độc hại: Được hay không?

Những năm qua, nhiều nỗ lực và giải pháp nhằm hạn chế việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) đã được triển khai. Tuy nhiên, tình trạng sử dụng thuốc BVTV, đặc biệt là đối với rau quả gây nguy cơ mất ATTP vẫn đang là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội. Một giả thiết đang đặt ra: Liệu có thể cấm hoàn toàn việc sử dụng thuốc BVTV độc hại (mà trước hết là trên rau) hay không?

NNVN đã mở diễn đàn nêu ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lí... về vấn đề này.

Ông Trương Quốc Tùng – Phó chủ tịch Hội KHKT Bảo vệ thực vật VN: Mọi nhức nhối nằm ở danh mục thuốc

Cần giảm ngay ít nhất 30% tên thuốc

Trước hết, phải khẳng định danh mục thuốc BVTV hiện quá nhiều. Trước mắt, tôi nghĩ hoàn toàn có thể cắt giảm ít nhất 30% số lượng tên thuốc trong danh mục.

Điều tra gần đây do Hội BVTV tiến hành tại 5 tỉnh (trong đó có Lâm Đồng, Hà Nội và Vĩnh Phúc...) cho thấy, chỉ có dưới 100 tên thuốc BVTV được nông dân thường xuyên sử dụng trên rau và lúa, tập trung ở khoảng 10-15 hoạt chất chính. Ngay như Lâm Đồng là tỉnh có nhiều loại cây trồng đa dạng nhất cũng chỉ có khoảng dưới 200 tên thuốc BVTV thường xuyên lưu hành.

Thế nhưng hiện nay, chúng ta lại đang có tới hơn 4.000 tên thuốc BVTV đã được đăng ký và hơn 1.000 hoạt chất (chưa nói, cùng 1 tên thuốc khi ra thương mại lại đăng ký rất nhiều nồng độ khác nhau, ví dụ Aremec 18EC (nồng độ 18% hoạt chất), Aremec 36EC, Aremec 45EC.

Tương tự New sodan 2.0, 4.0, 5.0, 5.3, 4.4; Silsau 1.8EC, 3.6EC, 4EC, 4.3EC, 4.5EC, 4.7EC, 5EC, 5.3EC, 5.5EC, 6EC, 6.5EC, 8EC, 10WP, thành ra trên thực tế có hàng chục nghìn sản phẩm thuốc BVTV thương mại, thị trường thuốc như ma trận - PV).

Theo tôi, ngành BVTV hiện nay chỉ cần chọn ra 200 tên thuốc nông dược tốt để nông dân lựa chọn sử dụng đã là quá đủ, chứ không nhất thiết phải có tới chừng ấy tên thuốc và hoạt chất đăng ký.
Nông dân đang ngơ ngác trước mê hồn trận thuốc BVTV
Mọi vấn đề nhức nhối nhất về thuốc BVTV hiện nay đều đang nằm ở danh mục thuốc BVTV. Có quá nhiều tên thuốc được cho phép NK, trong đó có quá nhiều sự trùng lặp. Có những hoạt chất có tới 100-150 tên thương mại, trong khi thế giới hiện nay trung bình họ chỉ có khoảng 5-7 tên thương mại/hoạt chất...

Nguy hiểm là rất nhiều loại thuốc có độ độc, thời gian cách li rất dài hiện vẫn được phép NK. Trước mắt, cần phải cố gắng giảm ít nhất 30% tên thuốc cũng như lượng thuốc BVTV thuộc nhóm độc hại này.

Đồng thời, phải điều chỉnh ngay về chính sách NK. Loại thuốc nào chúng ta không khuyến khích NK, phải đánh thuế thật nặng, hoặc mỗi hoạt chất, chỉ cho phép một số Cty được phép NK và đăng ký 5-7 tên thương mại thôi, chứ không thể tới mấy trăm tên thương mại như hiện nay.

Về kinh doanh thuốc BVTV, có thể nói mạng lưới kinh doanh thuốc BVTV chúng ta đã bung ra tới mức không thể kiểm soát nổi. Thống kê sơ bộ, cả nước hiện có tới hơn 200 DN kinh doanh, NK, sang chai đóng gói... thuốc BVTV cùng với khoảng 30 nghìn đại lý kinh doanh nông dược.

Điều tra của Hội BVTV cho thấy, trong số chi phí 500-700 triệu USD/năm cho thuốc BVTV ở nước ta, thì tới 70% chỉ tập trung ở khoảng 20 Cty thuốc BVTV lớn. Còn lại, khoảng trên 180 Cty chỉ đóng góp khoảng 30% doanh số còn lại. Điều này cho thấy hoạt động kinh doanh của các Cty thuốc BVTV siêu nhỏ, “siêu mini” ngày càng mọc lên như nấm.

Tôi nghĩ, nước ta hiện chỉ cần khoảng 20-30 DN kinh doanh và NK thuốc BVTV đã là quá đủ, chứ không cần tới hơn 200 Cty kinh doanh thuốc BVTV như hiện nay.

Đi đôi với việc cắt giảm số lượng DN, phải chấn chỉnh ngay hệ thống mạng lưới đại lí kinh doanh thuốc BVTV. Bởi hệ thống này đang phát tán bung bét, chẳng có ai quản lí nổi, giỏi lắm chỉ được dăm ba bữa tập huấn là cùng, còn đại loại là ai thích buôn thuốc BVTV cũng được.

Thực tế trên 70% chủ đại lí kinh doanh thuốc BVTV không có bằng cấp chuyên môn gì liên quan đến thuốc BVTV, trong khi đó điều tra ở các tỉnh phía Nam cho thấy có tới trên 65% nông dân đi mua thuốc BVTV chỉ đều dựa vào khuyến cáo của chủ đại lí. Đây là điều vô cùng tai hại. Trong khi đó, thanh tra ngành BVTV có thể nói đang đi thụt lùi.

Theo tính toán, trung bình, mỗi cán bộ thanh tra ngành BVTV hiện phải gánh nhiệm vụ giám sát tới 200-300 đại lý nông dược nên hoàn toàn quá tải, chưa kể quyền hạn trong tay gần như không có gì. Bởi thanh tra chuyên ngành BVTV hiện nay không còn nữa, mà chỉ nằm trong lực lượng thanh tra chung ở các Sở NN-PTNT, Bộ NN-PTNT nên chẳng có quyền hạn gì nhiều.

Cấm thuốc hóa học, được hay không?

Thế giới hiện chưa có nước nào hoàn toàn không sử dụng thuốc BVTV. Nhưng chiến lược giảm nguy cơ của thuốc BVTV thì nhiều quốc gia đã thực hiện có lộ trình. Còn Việt Nam, đến nay vẫn chưa hề có một lộ trình, đề án cắt giảm cụ thể nào, mà chỉ mang tính hô hào kêu gọi chung chung thôi.

Nhiều tính toán cho thấy, hoàn toàn có thể giảm được ít nhất 50% lượng thuốc BVTV tiêu thụ hàng năm trên thế giới (trong tổng số 30-35 tỉ USD/năm). Điển hình cho chiến lược cắt giảm đó là các nước Bắc Âu như Phần Lan, Thụy Điển, Đan Mạch... trong vòng 15 năm gần đây, họ đã từng bước cắt giảm và đến nay đã giảm được 50% lượng thuốc BVTV so với trước.

Trong đó, trước hết họ cắt giảm đối với các loại thuốc BVTV độc hại trên nhiều loại đối tượng cây trồng, đặc biệt là rau.

Trong các đối tượng cây trồng, thì việc cắt giảm sử dụng thuốc BVTV trên rau vẫn là phức tạp và khó khăn nhất, bởi rau nhiều chủng loại, ngắn ngày, việc cách li hạn chế..., trong khi có rất nhiều loại sâu bệnh gây hại, khó sử dụng các loại thuốc sinh học đòi hỏi phải sử dụng trong dài ngày.

Vậy, nếu cấm hoàn toàn các thuốc BVTV độc hại trên rau (trước mắt là các thuốc hóa học) thì có thực hiện được hay không? Điều gì có thể xẩy ra đối với an toàn dịch bệnh trong SX rau? Tôi cho rằng, với các chủng loại thuốc sinh học không độc hại khá đa dạng như hiện nay, nếu loại bỏ hoàn toàn thuốc hóa học (trước hết là đối rau) thì trước mắt, hoạt động SX rau có thể sẽ không có nhiều ảnh hưởng.

Gần đây, ở Vĩnh Phúc đã có mô hình SX hàng chục ha rau, chỉ hoàn toàn dùng thuốc sinh học không độc hại nhưng cho thấy vẫn đảm bảo an toàn dịch bệnh và đạt tiêu chuẩn SX VietGAP. Nhiều mô hình SX rau ở Lâm Đồng không hề sử dụng thuốc BVTV hóa học, vẫn cho năng suất, chất lượng, kiểm soát được sâu bệnh rất tốt.

Điều này cho thấy trong ngắn hạn và trong phạm vi nào đó, mô hình hoàn toàn không sử dụng thuốc BVTV hóa học độc hại, vẫn có thể SX rau đảm bảo năng suất. Tuy nhiên, nếu chúng ta áp dụng trên phạm vi cả nước trong dài hạn, sẽ khó có thể khẳng định việc “cấm tiệt” sử dụng thuốc BVTV hóa học độc hại liệu có thể đảm bảo được an toàn dịch bệnh cho hoạt động SX rau hay không.

Bởi có thể vào mùa đông sâu bệnh ít hoàn toàn có thể sử dụng thuốc sinh học, nhưng về mùa hè, nếu không sử dụng thuốc BVTV hóa học, sâu bệnh bùng lên thì liệu sử dụng thuốc sinh học dài hạn có đảm bảo được an toàn dịch bệnh hay không? Điều này khó mà khẳng định được.

Giải pháp trước mắt, tôi cho rằng Chính phủ cần có ngay một đề án, chiến lược hay lộ trình cụ thể nào đó nhằm giảm thiểu thuốc BVTV mang tính dài hơi, có thể 20-30 năm tới. Có đề án cụ thể, chúng ta mới xác định rõ mục tiêu dài hơi đến năm 2020 hay 2030, mạng lưới SX kinh doanh thuốc BVTV sẽ ra sao, danh mục thuốc sẽ thế nào, SX gia công thuốc BVTV ở VN ra sao?

Mục tiêu giảm bao nhiêu % thuốc BVTV, tập huấn sử dụng thuốc BVTV cho nông dân hay mở rộng hệ thống SX áp dụng IPM (phòng trừ dịch hại tổng hợp), VietGAP ra sao..., theo đó mới có thể có chính sách cụ thể kèm theo, chứ không thể cứ ban hành chính sách cho từng năm như hiện nay.

“Về danh mục thuốc BVTV, nhất thiết cần phải loại bỏ ít nhất 30% số lượng tên thuốc cũng như lượng thuốc BVTV sử dụng hàng năm, đồng thời phân loại chặt chẽ hơn nữa. Chúng ta hiện cũng đã phân ra các loại thuốc được phép sử dụng, loại hạn chế sử dụng và loại cấm sử dụng. Tuy nhiên, tôi cho rằng việc phân loại cần phải chi tiết, cụ thể hơn nữa.



Ví dụ: Ngay trong nhóm thuốc được phép sử dụng, cần phân loại tiếp thành loại nào khuyến khích sử dụng và NK, loại nào không khuyến khích sử dụng và NK...”. (Ông Trương Quốc Tùng)
Hiện nay, nhu cầu an toàn thực phẩm và bảo vệ sức khỏe con người là mục tiêu hàng đầu, vì vậy cần có biện pháp hữu hiệu để vừa đảm bảo được năng suất cây trồng mà vẫn an toàn với mọi người, môi trường. xu hướng hiện nay là sử dụng chế phẩm sinh học ứng dụng trong trồng trọt. 

Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

22:44  Cà Phê Nguyên Chất Sơn Trang

Dịch cúm gia cầm lan ra 12 tỉnh

Thông báo mới nhất từ Cục Thú y (Bộ NN&PTNT) cho hay, dịch cúm gia cầm đã xuất hiện tại 12 tỉnh.

Đó là Lào Cai, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Nam Định, Kon Tum, Tây Ninh, Cà Mau, Khánh Hòa, Long An, Bạc Liêu, Phú Yên và Đăk Lăk. Trong đó có 10 tỉnh đã công bố dịch.



Ảnh minh họa

Tại Long An: Sở NN&PTNT Long An cho biết, tỉnh đã chính thức công bố dịch cúm gia cầm A/H5N1 ở khu vực hai xã Quê Mỹ Thạnh (huyện Tân Trụ) và Bình Quới (Châu Thành). Sau khi công bố dịch, Chi cục Thú y và lực lượng địa phương đã tiến hành tiêm chích, khử trùng và tiêu hủy đối với các gia cầm có dấu hiệu nhiễm cúm.

Tại Bạc Liêu: Chi cục Thú y tỉnh Bạc Liêu cho biết, trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện 2 ổ dịch cúm gia cầm tại 2 huyện Hồng Dân và Phước Long và có trên 3.400 con gia cầm bị bệnh chết phải tiêu hủy. Trong đó có 2.390 con gia cầm chết bất thường tại hai hộ chăn nuôi. Qua kết quả kiểm tra xét nghiệm của ngành thú y kết luận số gia cầm này đều dương tính với cúm A/H5N1.

Tại Đăk Lăk: Dịch bệnh đã xảy ra ở 3 xã thuộc TP Buôn Ma Thuột, huyện Krông Pắc và huyện Buôn Đôn. Số gia cầm buộc phải tiêu hủy gần 2.000 con. Hiện Chi cục Thú y Đăk Lăk đang phối hợp với Cơ quan thú y vùng V và chính quyền địa phương tổ chức chống dịch.

Tỉnh Phú Yên: Tỉnh Phú Yên cũng đã công bố dịch, khi chiều 16/2 phát hiện ba mẫu bệnh phẩm của đàn vịt nuôi tại hộ ông Huỳnh Tấn Thành ở thôn Thạch Tuân 2, xã Hòa Xuân Đông, huyện Đông Hòa dương tính với cúm A/H5N1.

Cục Thú y cho biết, hiện nguồn vaccine dự phòng cho cúm gia cầm đảm bảo đủ cung cấp cho các tỉnh chống dịch. Điều quan trọng lúc này là các địa phương phải quyết định sớm vấn đề công bố dịch bệnh.

Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

22:18  Cà Phê Nguyên Chất Sơn Trang

TP.HCM: Thực phẩm tươi sống đắt hàng sau ngày Tết

Hiện tại thị trường Thành phố Hồ Chí Minh, hầu hết các hệ thống siêu thị, cửa hàng, chợ truyền thống đã mở cửa hoạt động bình thường với nguồn cung thực phẩm khá dồi dào và giá cả ổn định.
Hàng hóa tại siêu thị Coopmart Thành phố Hồ Chí Minh
Nhằm phục vụ cho ngày Thần Tài (tức mùng 10 âm lịch), nhiều đơn vị bán buôn đã tăng cường mặt hàng cá lóc và đa dạng hình thức phục vụ người tiêu dùng.

Khảo sát ở một số chợ bán lẻ như Bà Chiểu, Tân Định, Nguyễn Văn Trỗi, Thị Nghè… mặt hàng cá lóc đồng loại lớn có giá từ 160.000-170.000 đồng/kg, còn loại hai là 100.000-120.000 đồng/kg, riêng cá lóc nuôi dao động ở mức từ 70.000-80.000 đồng/kg.

Đặc biệt, cá lóc nướng sẵn tùy theo trọng lượng mà giá cả khác nhau, điển hình như loại có trọng lượng trên 1 kg/con có giá dao động ở mức 150.000-180.000 đồng/con, còn loại 0,5-0,8 kg/con là 90.000-120.000 đồng/con… Bên cạnh đó, người tiêu dùng có thể mua cá sống, sau đó mang sang quầy nướng với phí từ 25.000-40.000 đồng/con.

Theo các tiểu thương tại chợ bán lẻ trên địa bàn thành phố, mặc dù sau Tết thường là thời điểm mặt hàng thủy hải sản rất hút hàng và có sức tiêu thụ cao, nhưng diễn biến thị trường năm nay cho thấy nguồn cung mặt hàng này khá dồi dào, đảm bảo đáp ứng nhu cầu thị trường nên chưa có hiện tượng khan hàng sốt giá.

Tại các chợ, khu vực kinh doanh nhóm ngành hàng thủy hải sản buôn bán khá nhộn nhịp, hàng hóa đa dạng và thu hút được nhiều khách hàng.

Trong đó, giá bán lẻ các mặt hàng thủy sản ổn định hoặc chỉ tăng nhẹ so với trước Tết; cá ngừ có giá 50.000 đồng/kg, cá ngân 60.000 đồng/kg, cá hường 60.000 đồng/kg, cá chép 70.000-75.000 đồng/kg, mực 70.000-80.000 đồng/kg, tôm thẻ 250.000 đồng/kg, tôm bạc 120.000 đồng/kg…

Không chỉ nhóm mặt hàng thủy hải sản mà nhiều nhóm ngành khác cũng đang có sức tiêu thụ tăng trở lại như thực phẩm đông lạnh, thực phẩm công nghệ, nước giải khát, rau củ, quả…

Theo nhận định của thương nhân, vào thời điểm này đắt hàng nhất vẫn là rau củ, quả và hoa tươi cắt cành, tuy nhiên giá các ngành hàng này có xu hướng giảm giá so với Tết và tăng khoảng 10% so với ngày thường.

Trong đó, giá bán mãng cầu là 40.000 đồng/kg, quýt giống Thái 40.000 đồng/kg, xoài cát Hòa Lộc 35.000 đồng/kg, dừa xiêm 12.000-15.000 đồng/quả…

Riêng một số mặt hàng rau củ có giá giảm đáng kể như cà chua 8.000 đồng/kg (giảm 3.000 đồng), dưa leo 12.000 đồng/kg (1.000 đồng), xà lách Đà Lạt 20.000 đồng/kg (10.000 đồng), bí xanh 8.000 đồng/kg (2.000 đồng)./.

Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2014

22:40  Cà Phê Nguyên Chất Sơn Trang

Mô hình nuôi tôm trong ruộng lúa phát triển mạnh ở ĐBSCL

Do phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, tiết giảm chi phí sản xuất, hiệu quả kinh tế cao nên những năm gần đây, mô hình kết hợp tôm - lúa phát triển khá mạnh tại các tỉnh, thành ven biển vùng ĐBSCL.

Hiện diện tích thực hiện mô hình tôm – lúa của Kiên Giang lên gần 70.000 ha, chiếm khoảng 50% tổng diện tích gieo sạ của vùng. Chuyển dịch từ năm 2000, diện tích sản xuất 1 vụ lúa, 1 vụ tôm trên địa bàn tỉnh không ngừng tăng lên.

Khác hẳn với sản xuất chuyên canh lúa hay tôm, mô hình tôm – lúa giảm rất nhiều chi phí cho nông dân. Tôm nuôi trong ruộng lúa tăng trọng nhanh nhờ nguồn thức ăn dồi dào, sạch bệnh. Còn với cây lúa trồng sau vụ nuôi tôm cũng rất tốt bởi đất được bổ sung độ phì nhiêu, màu mỡ. Từ đó, tạo ra sản phẩm an toàn vì hạn chế tối đa việc sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu.

Dù hiệu quả được thể hiện ở nhiều mặt, nhất là tạo ra được những sản phẩm sạch, chất lượng cao đáp ứng nhu cầu xuất khẩu; song yếu tố quyết định đến thắng lợi của mô hình này là nông dân phải tuân thủ nghiêm ngặt quy hoạch sản xuất của ngành nông nghiệp. Thực tế, nông dân sản xuất ồ ạt, thiếu tính đồng bộ ngoài việc không mang lại hiệu quả, còn ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất chung của nhiều hộ khác.

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, diện tích canh tác theo mô hình tôm - lúa ở ĐBSCL hiện đạt khoảng 140.000 ha, chưa xứng với tiềm năng và thế mạnh của vùng. Do đó, với những định hướng mang tính chiến lược của ngành nông nghiệp được đưa ra sẽ là tiền đề vững chắc góp phần nhân rộng mô hình này trong thời gian tới.

22:26  Cà Phê Nguyên Chất Sơn Trang

Giá cả ổn định nhưng vẫn cần thận trọng!

Việc điều chỉnh giá của từng mặt hàng cụ thể cần được cân nhắc liều lượng và thời điểm hợp lý.

Thông lệ hàng năm, cứ vào dịp cận và sau Tết Nguyên đán, các loại thực phẩm, rau, củ, quả, dịch vụ ăn uống thường tăng giá mạnh. Tuy nhiên năm, nay hầu hết các mặt hàng lương thực, thực phẩm, rau, củ… tương đối ổn định. Mặc dù cũng có mặt hàng tăng giá cục bộ, nhưng nhìn chung thị trường cung - cầu được thực hiện tương đối tốt, hạn chế được tình trạng khan hàng sốt giá.

Sau những ngày nghỉ Tết Giáp Ngọ, hôm nay bà Đoàn Thị Tuyết, ở phường Thượng Thanh, quận Long Biên, Hà Nội mới ra chợ gần nhà để mua thực phẩm. Đi 1 vòng quanh chợ, bà cũng đã mua được rất nhiều loại rau như su hào, bắp cải, cà chua… Bà Tuyết chia sẻ, không giống như mọi năm, năm nay giá thực phẩm sau Tết rẻ hơn nhiều:

“Sau Tết tôi thấy rẻ hơn, hôm nay tôi mua thịt thủ với tai cũng rẻ, trước tôi mua 15.000 đồng/lạng nay tôi mua có 7.500 đồng/lạng, các thứ rau dưa cũng đều rẻ, rẻ hơn cả Tết nhiều, thấy rẻ thế này là phấn khởi”, bà Tuyết cho biết.

Rau quả. thực phẩm sau Tết giá vẫn ổn định, sức mua không tăng.
Những ngày đầu năm mới, nhiều chợ trên địa bàn thành phố Hà Nội đã hoạt động trở lại. Tuy nhiên, cảnh mua bán vẫn thưa thớt và vắng vẻ. Theo khảo sát của phóng viên, trừ các loại hải sản giá tăng mạnh (cụ thể, tôm loại to một cân khoảng 20 - 25 con, có giá từ 600.000 – 650.000 đồng/kg; tôm loại vừa có giá từ 250.000 – 300.000 đồng/kg…còn lại các mặt hàng như thị bò, thịt lợn, cá, gà…giá vẫn ổn định.

Chị Vũ Thị Nhường, một tiểu thương ở chợ Hôm, quận Hai Bà Trưng chia sẻ, trừ giá xương sườn vẫn ở mức cao từ 90.000 – 120.000 đồng/kg thì chưa năm nào, thịt lại ế ẩm như thời điểm này:

“Dạo này thực phẩm bán ế, lượng hàng bán ra giảm đi không bằng 1 nửa so với mọi khi, giá cũng rẻ nhưng vẫn không bán được. Trước Tết thịt có giá 70.000 – 80.000 đồng đến nay bán 50.000 - 60.000 cũng không có người mua”, chị Nhường chia sẻ.

Trái với mọi năm, sau Tết Giáp Ngọ, giá các mặt hàng rau quả thường tăng mạnh, thì năm nay không tăng, thậm chí nhiều mặt hàng còn giảm đáng kể. Tại các chợ Hôm (quận Hai Bà Trưng); Gia Lâm, Ngọc Lâm (quận Long Biên), mỗi cân cà chua dao động từ 5.000 – 7.000 đồng, thay vì 10.000 – 15.000 đồng như trước Tết; Súp lơ có giá 4.000 đồng/cây, bắp cải 4.000 đồng/kg; su hào 1.000 đồng/củ…

Theo chị Nguyễn Thị Nhàn, một tiểu thương ở chợ Gia Lâm, quận Long Biên, nhu cầu thực phẩm của người dân thời điểm này thấp hơn ngày thường. Bên cạnh đó, thời tiết thuận lợi, ấm áp khiến nguồn cung rau củ dồi dào, giá đầu vào rẻ hơn.

Lý giải về diễn biến giá cả ổn định sau Tết Nguyên đán, ông Nguyễn Đức Thắng, Vụ trưởng Vụ Thống kê giá (Tổng cục Thống kê) cho biết, trước và sau Tết, hàng hóa ở các địa phương rất phong phú đa dạng; nguồn cung dồi dào, ổn định. Ngành công thương thời gian qua cũng đã có sự chuẩn bị tốt trong lưu thông phân phối hàng hóa góp phần hạn chế tình trạng khan hàng, sốt giá.

Trong khi đó, sức mua không tăng cao. Trong bối cảnh tình hình kinh tế khó khăn, người dân thắt chặt chi tiêu và cân nhắc tập trung vào nhu cầu thiết yếu. Tuy nhiên, thời gian tới, vẫn còn nhiều yếu tố tác động đến chỉ số giá tiêu dùng. Do đó, chưa thể chủ quan lơ là. Công tác điều hành giá cả năm 2014 vẫn cần thận trọng để đạt mục tiêu đề ra.

“Lạm phát ở Việt Nam mặc dù đang thấp nhưng chưa vững chắc nên vẫn cần tiếp tục kiểm soát lạm phát. Năm 2014 Chính phủ chủ trương chuyển từ kiềm chế lạm phát sang kiểm soát lạm phát dưới mức 7% có thể đạt được”, Ông Nguyễn Đức Thắng nói.

Các chuyên gia cho rằng, diễn biến giá cả ở Việt Nam trong năm 2014 phụ thuộc rất mạnh vào các quyết sách thực hiện lộ trình điều hành giá một số mặt hàng của nhà nước như điện, than, xăng dầu, dịch vụ y tế, giáo dục...

Do đó, việc điều chỉnh giá của từng mặt hàng cụ thể cần được cân nhắc liều lượng và thời điểm hợp lý để tránh tạo ra những cú sốc trên thị trường và tác động tới đời sống của người dân./.

20:42  Cà Phê Nguyên Chất Sơn Trang

Nuôi ong mật bạc hà kiếm bạc tỉ trên cao nguyên đá

       Nghề nuôi ong lấy mật từ hoa bạc hà đã có từ lâu ở Đồng Văn cũng như các huyện miền núi của tỉnh Hà Giang. Tuy nhiên, người nuôi chủ yếu mang tính tự phát, nhỏ lẻ, không theo quy trình hợp lý nên sản lượng và chất lượng sản phẩm rất thấp.
Cán bộ giảng viên của Trung tâm nghiên cứu và phát triển ong Việt Nam
đang hướng dẫn bà con kỹ thuật chăm sóc đàn ong mật ở Đồng Văn.
      4.000 đàn ong… thu 3,5 tỉ đồng

      Mỗi gia đình người Mông trên vùng cao nguyên Đồng Văn, từ nhiều đời nay đều có một vài đàn ong nhà nuôi lấy mật làm thuốc và làm bánh vào các dịp tết, lễ hội, cúng bái...

      Ong ở đây chủ yếu lấy mật từ cây bạc hà núi, sinh sống trong tự nhiên (loại cây chỉ mọc ở các núi đá vùng cao, nở hoa vào từ tháng 9 đến cuối năm âm lịch) nên mật và phấn của nhụy hoa cho mùi vị rất riêng biệt). Loại mật ong này được chiết xuất nguyên chất, nên từ lâu mật ong bạc hà Đồng Văn đã trở thành một thứ đặc sản quý.

      Vài năm gần đây, Đồng Văn ngày càng phát triển, thu hút nhiều du khách khắp nơi và mật ong bạc hà thường là món quà vùng cao độc đáo và hấp dẫn, với giá hiện nay khoảng 300.000/lít đã mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho đồng bào nơi đây.

      Ông Nguyễn Đức Tính - Phó chủ tịch UBND huyện Đồng Văn - cho biết: “Hiện tại toàn huyện có khoảng 4.000 đàn ong, bình quân mỗi đàn cho 3 lít mật/năm, tổng sản lượng toàn huyện đạt 12.000 lít (tương đương với 18 tấn mật) với giá trị khoảng hơn 3,5 tỉ đồng mỗi năm”.

Với những điều kiện được thiên nhiên ưu đãi, nhưng nghề nuôi ong ở Đồng Văn vẫn chưa phát triển so với tiềm năng và đánh mất cơ hội phát triển trong nhiều năm nay.

      Thấy rõ hạn chế này, từ tháng 9.2013 (thời điểm chuẩn bị bước vào vụ thu mật ong 2013 - 2014), UBND huyện Đồng Văn đã chỉ đạo Trung tâm dạy nghề huyện phối hợp với Trung tâm nghiên cứu và phát triển ong Việt Nam mở 17 lớp tập huấn kỹ thuật nuôi ong với 462 học viên tại các cụm xã, thị trấn trên địa bàn huyện, nhằm đào tạo nghề, giúp cho bà con là các chủ hộ nuôi ong nắm bắt các tiến bộ khoa học đối với mô hình này.

      Các giảng viên đều là những người có kinh nghiệm nuôi ong mật, trực tiếp truyền đạt những nội dung chủ yếu và quan trọng như kỹ thuật lựa chọn ong giống, kỹ thuật tạo ong chúa, phân chia đàn ong, những bệnh thường gặp ở ong nuôi…

      Cơ hội thoát nghèo

      Đầu năm nay, huyện Đồng Văn đã hỗ trợ cho các học viên đã được đào tạo 200.000 đồng/đàn ong, để bà con có điều kiện nhân rộng và chuẩn bị cho mùa thu hoạch 2014.

      Tiến sĩ Lê Quang Trung - Phó giám đốc Trung tâm nghiên cứu và phát triển ong Việt Nam - cho biết: “Với đề án nhân rộng và phát triển đàn ong mật năm 2013, huyện Đồng Văn tin tưởng sẽ nâng cao sản lượng mỗi đàn lên 6 lít/năm. Đây chắc chắn sẽ là cơ hội để số lượng đàn ong của huyện tăng nhanh, đồng thời người dân có thể thoát nghèo nhờ nghề truyền thống này”.

      Gia đình anh Hoàng Thanh Đô (tổ 4, thị trấn Đồng Văn) đến với nghề nuôi ong từ truyền thống của gia đình và niềm đam mê đặc biệt đối với loài côn trùng cánh mỏng này.

      Tận dụng khu vực xung quanh nhà có nhiều đồi núi, rộng rãi thuận lợi, anh Đô phát triển đàn ong thường xuyên ở mức 60 đàn, thời điểm bước vào vụ thu mật năm nay, anh đã nhân lên thành 120 đàn. Nhờ có kinh nghiệm nuôi nên mỗi thùng anh để tới 8 đến 10 cầu ong, mỗi thùng ong của anh cho thu tới 10 lít mật. Với giá bán 300.000/lít mật ngay tại nhà, vụ thu hoạch ong bạc hà, gia đình anh Đô thu trên 200 triệu đồng sau khi đã trừ mọi chi phí đầu tư.

Share

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More